Giá máy thổi khí oxy

Số lượng của hệ thống thiết bị sục khí phụ thuộc vào sản lượng và diện tích ao nuôi, việc đặt ở vị trí thích hợp và đúng số lượng của hệ thống sục khí cần thiết để tạo ra sản lượng tốt nhất cho các ao nuôi thâm canh. Do đó, chi phí giá máy sục khí oxy cho ao nuôi thủy sản(tôm, cá) còn phụ thuộc vào quy mô và diện tích ao nuôi

Sử thiết bị sục  khí đáy trong ao nuôi tôm nước mặn

Khi không đủ qoạt nước trong ao, các vấn đề về sức khỏe tôm thường xảy ra vào giai đoạn tôm 60 ngày tuổi và sau đó, đặc biệt là mô hình nuôi trong ao đất thường được sử dụng phổ biến cho nuôi tôm nước mặn tại nhiều quốc gia, và khi tôm nuôi với mật độ 30 con/m2 được cho ăn thức ăn viên.

Nhiều người nuôi nhầm tưởng rằng lý do duy nhất để lắp quạt nước trong ao là tăng lượng oxy hòa tan trong nước. Họ không quan tâm đúng mức để có số lượng thích hợp của thiết bị sụt khí cho kích thước của mỗi ao hoặc định vị các thiết bị sục khí một các chính xác để các dòng nước sẽ cuộn chất cặn vào trung tâm của đáy ao, ngay cả khi họ đang nuôi tôm với mật độ hơn 30 con/m2. Ngoài ra, nhiều nông dân bỏ qua tầm quan trọng của việc sử dụng quạt nước vào thời gian đầu của ao nuôi khi tôm còn nhỏ. Họ nghĩ rằng chất lượng nước tốt khi bắt đầu và hàm lượng oxy hòa tan là đủ cho tôm nhỏ, vì lượng chất thải từ thức ăn vẫn còn ít, do vậy nó không cần thiết để bật hệ thống quạt nước. Nếu chúng ta chỉ quan tâm hàm lượng oxy hòa tan trong nước, có một sự thật rằng khi trời nắng, thực vật phù du sẽ được quang hợp và giải phóng oxy vào trong nước, như vậy sẽ có đủ và nhiều oxy hơn cho tôm ngay cả khi tắt hệ thống quạt nước.
 
Giá máy sục khí Oxy


Tuy nhiên, sẽ là tốt hơn để mở hệ thống quạt nước theo định kỳ trong ngày ngay cả khi mặt trời chiếu sáng, bởi vì dòng chảy của nước sẽ giúp cân bằng nhiệt độ nước ở các độ sâu khác nhau trong toàn bộ ao và oxy được tạo ra từ hoạt động quang hợp của thực vật phù du ở tầng mặt nước sẽ được phân phối tới các độ sâu thấp hơn. Thông thường, oxy nhanh chóng bị cạn kiệt gần đáy ao nơi các vi khuẩn phân hủy đang sử dụng nó để phân hủy các chất hữu cơ. Thay vì chỉ bật quạt nước khi mặt trời lặn hoặc để quạt nước hoạt động vào ban đêm đến sáng sớm, điều này là một lợi thế khi để hoạt động của quạt nước sau khi kiểm tra các vó thức ăn và sau mỗi lần cho ăn để khu vực cho ăn luôn sạch sẽ trong ngày. 
 

Thiết bị phân phối khí oxy trong ao nuôi thủy sản

Như đã đề cặp, lí do cho việc sử dụng máy thổi khí oxy không chỉ đơn giản để tăng lượng oxy hòa tan trong nước mà còn để cho hầu hết các khu vực của đáy ao sạch để có không gian đủ sạch cho số lượng tôm trong ao. Lượng tôm có được một nơi ở an toàn phụ thuộc vào mục tiêu sản xuất của người nông dân. Bài này viết về một số vấn đề phổ biến tại một vài quốc gia khi số lượng và vị trí của các thiết bị sục khí oxy là không tương ứng với số lượng tôm trong ao. Thông  thường số lượng các thiết bị sục khí là không đủ cho mục tiêu sản xuất của người nuôi.  Hầu hết người nuôi tôm sú và thẻ đều thả tôm giống với mật độ cao hơn 30 con/m2 dù họ chỉ lắp vài hệ thống quạt nước.
 
Máy sục khí oxy cho tôm, máy thổi khí oxy


Thường sau khi tôm nuôi được 50-70 ngày chúng bắt đầu giảm ăn và có thể có phân trắng. Tôm trong ao có thể bắt đầu chết. Điều này là do môi trường trong ao nuôi không phù hợp. Chất lượng nước có liên quan đến diện tích đáy ao không được sạch. Nếu không có đủ không gian sạch và toàn bộ đáy ao bị phủ bởi bùn, chất lượng nước sẽ không được tốt. Một vấn đề được tìm thấy ở hầu hết các nước là không có đủ hệ thống quạt nước và đặt đúng vị trí để tạo một dòng chảy tích hợp cuộn tất cả các chất hữu cơ vào trung tâm của ao. Sau đây là những mô tả các vấn đề phổ biến nhất.

1. Chỉ lắp hệ thống quạt nước ở hai bờ của ao


Ở nhiều nước châu Á, bạn sẽ thấy các trang trại nuôi sú hay tôm thẻ chân trắng với mật độ từ 30-40 con/m2 với máy sục khí oxy chỉ được lắp đặt ở hai bên bờ của ao. Trong trường hợp này tôm thường phát triển chậm và giảm ăn, tôm bắt đầu có hiện tượng mềm vỏ sau khoảng 40-50 ngày nuôi. Nó phụ thuộc vào tình trạng của đáy ao. Nếu ao được chuẩn bị đúng cách sau vụ nuôi trước đó và chất lượng nước ở điều kiện tốt để có đủ lượng sinh vật phù du và thức ăn tự nhiên điều này làm cho tôm có thể phát triển tốt trong tháng đầu tiên hoặc lâu hơn, nhưng sau 40-50 ngày nhiều chất thải và cặn bã được hình thành từ các phần khác nhau của ao nuôi như xác sinh vật phù du và các hạt đất bị xói mòn từ bên trong ao do dòng chảy của quạt nước.

Hàm lượng oxy trong những vùng này sẽ giảm do các quạt nước không đủ để phân phối oxy đi khắp cả các phần của ao. Khi tôm lớn hơn chúng muốn dành phần lớn thời gian của chúng ở phần đáy ao trong khu vực sạch nhất hoặc chỉ trong phạm vi chỉ 50m ở phía trước của thiết bị sục khí. Hai bên của ao không có thiết bị sục khí và giữa ao sẽ không được sạch đồng thời có sự gia tăng của các chất cặn bã, và hàm lượng oxy hòa tan trong những vùng này sẽ giảm dần. Trong trường hợp này thường là nông dân sẽ phải thu hoạch tôm sớm và kích thước của tôm sẽ thấp hơn mục tiêu. Kích thước bình thường của tôm sú được nuôi với mật độ khoảng 30-40 con/m2 là 25-40 gram/con,nhưng khi sục khí không đủ tôm có thể bắt đầu bệnh và có trọng lượng 10 gram/con.

Đối với các ao nuôi được thiết kế như vậy, người nuôi tôm nên làm gì? Tôi đề nghị rằng cho dù tôm sú hay tôm thẻ chân trắng cũng nên thả với mật độ thấp hơn nhiều, nên thả 12-15 con/m2 với kích cỡ thu hoạch tôm đạt đến 30-40 gram. Khi số lượng tôm ít hơn, lượng thức ăn tiêu tốn ít hơn. Thức ăn có thể đến được các khu vực sạch ở phía trước của quạt nước, nơi lưu thông nước là tốt nhất, và tôm sẽ phát triển đồng đều. Tuy nhiên, người nông dân cần có sự hiểu biết tốt về sự quản lý chất lượng nước và thường xuyên đo để đảm bảo mức độ oxy hòa tan được duy trì ít nhất là 4 mg/l (4 ppm), độ pH 7,5-8,3 và độ kiềm không thấp hơn 80 mg/l. Nước không nên quá trong, bởi vì nước quá trong tôm sẽ không ăn nhiều dẫn đến dư thừa thức ăn. Thức ăn còn sót lại thúc đẩy sự phát triển của tảo ở đáy ao. Sau một thời gian tảo sẽ nổi lên trên bề mặt của ao, nhưng khi tảo chết chúng sẽ chìm xuống đáy ao gây ra tích tụ ammoniac và chất thải ở đáy ao.  Từ đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến tôm nuôi. Vấn đề này được nhìn thấy ở nhiều quốc gia

2. Hệ thống sục khí đặt toàn bộ xung quanh ao nhưng diện tích ao quá lớn


Trên hầu hết các trang trại, tôm được thả với mật độ cao khi có đủ quạt nước. Ví dụ, một ao có diện tích 1 ha (100 x 100m) có thể được trang bị 8 hệ thống quạt nước, mỗi hệ thống quạt nước có công suất 2 mã lực và có 4 tay quạt trên mỗi hệ thống được đặt tại các điểm khác nhau trên khắp ao. Đây là cách bố trí phổ biến trên các trại nuôi thâm canh. Thông thường đối với tôm sú mật độ tôm là 30 con/m2, và tôm thẻ chân trắng là 40 con/m2 trở lên. Khi hệ thống quạt nước 2 mã lực được đặt trong một ao diện tích 1ha thì khoảng cách là khá xa nhau. Chí có khu vực trong phạm vi khoảng 40m ở phía trước của mỗi hệ thống quạt nước sẽ được giữ sạch sẽ. Hầu hết các trại nuôi tôm ở các quốc gia này quạt nước được đặt ra xa hơn 5m tính từ bờ ao, đây cũng là một vấn đề. Sau tháng đầu tiên khu vực xung quanh bờ ao sẽ trở nên quá bẩn. Cách giải quyết vấn đề là phải có các thiết bị sục khí đặt gần hơn với các bờ, hoặc không quá 3-4m từ mép bờ ao. Trong tháng cuối cùng của giai đoạn nuôi hệ thống quạt nước nên đặt 5-6 m từ mép bờ. Điều này giúp giữ đáy ao sạch. Khi tôm nuôi ở mật độ cao số lượng sục khí cần thiết cho mỗi ao phải được quyết định dựa trên các nguyên tắc sau đây:
Một hệ thống quạt nước 1 mã lực là đủ để sản xuất 440 kg tôm (tôm có kích thước không nhỏ hơn 15 gram) khi không được thay nước thường xuyên trong hai tháng đầu tiên của quá trình nuôi và không có cống xả trung tâm.

Trong trường hợp có cống xả trung tâm hoạt động trong suốt thời gian nuôi và nước ao nuôi được thay thường xuyên thì 1 mã lực có thể sản xuất lên đến 700 kg. Nếu số lượng quạt nước không cung cấp đủ cho số lượng tôm trong ao nuôi thì việc lắp đặt thêm hệ thống quạt nước là cần thiết, đặc biệt trong những tháng cuối cùng của quá trình nuôi. Có thể đặt được thêm 4 quạt nước gần trung tâm của ao. Nếu không thể đăt thêm quạt nước, nên tỉa thưa bớt số lượng tôm trong ao nuôi, nhưng việc này cần được thực hiện lúc tôm còn khỏe mạnh. Khi mật độ giảm xuống thấp hơn số lượng tôm còn lại có thể tiếp tục phát triển.

Người nông dân nên kiểm tra xem nếu đáy ao đang quá bẩn bằng cách quan sát màu sắc mang của tôm. Mang tôm có màu tối hơn khi đáy ao bị bẩn. Thông thường mang của tôm có màu sáng bóng. Mang tôm bắt đầu chuyển sang màu vàng đến màu nâu và sau đó có màu sẫm hơn bình thường. Tôm nuôi sẽ tiếp tục ăn bình thường. Nếu vấn đề chất lượng ao được giải quyết ở giai đoạn này, tôm sẽ trở lại bình thường trong một vài ngày, nhưng nếu đáy ao tiếp tục tích tụ chất bẩn mang của tôm sẽ chuyển từ màu nâu đến sẫm đen. Sau đó, tôm sẽ bắt đầu ăn ít hơn và một số sẽ di chuyển ra xung quanh bờ ao. Cách tốt nhất để giải quyết vấn đề nếu người nuôi thấy mang của tôm trở nên sẫm màu hơn so với bình thường nên đặt thêm hệ thống quạt nước trong các ao nhằm tạo ra nhiều dòng chảy và giữ sạch đáy ao. Và sau khi tôm lột xác, mang của tôm sẽ trở lại bình thường và tôm sẽ ăn bình thường.

Xem thêm: tác dụng máy khử độc ozone, máy khử độc ozone

2.1. Bao nhiêu hệ thống quạt nước là phù hợp?


Số lượng tối ưu của hệ thống quạt nước phụ thuộc vào mục tiêu sản lượng. Các qui tắc chung được đề nghị của những người nuôi có kinh nghiệm cho những người nuôi tôm thẻ chân trắng ở Thái Lan là khi tôm được nuôi với mật độ trên 80 con/m2 là 36 mã lực của hệ thống quạt nước cho mỗi ha. Với tỉ lệ này của hệ thống quạt nước có thể sản xuất tôm với mật độ cao và tôm sẽ phát triển bình thường, miễn là các hệ thống quạt nước được định vị một cách chính xác. Các hướng dẫn cho vị trí như sau:
Các thiết bị sục khí nên được đặt cách nhau từ các bờ của ao với khoảng cách là 1/3 chiều rộng của ao. Giả sử ao 90 x 90 m. Thiết bị sục khí phải được thiết lập từ 30m từ trên cả hai cạnh của ao, để lại 1/3 diện tích ao cho các chất cặn lắng tụ gom vào. Đây có thể đặt hệ thống quạt cánh dài 3 mã lực gần các bờ của ao và 2 mã lực cho thiết bị thổi khí đáy ở phần bên trong, phụ thuộc vào thiết bị trang trại đã có sẵn. Hệ thống quạt nước không nên sử dụng  nếu ao sâu hơn 1,5m. Hệ thống thổi khí phù hợp với ao sâu và nền đáy chắc chắn nhưng chúng không phù hợp với các ao cạn và ao trong những nơi có đất cát vì chũng sẽ làm khuấy động chất thải lắng tụ quá nhiều và làm đục nước ao.

Khi nào toàn bộ hệ thống sục khí được vận hành, nước sẽ chuyển động quanh ao. Khi có đủ hệ thống sục khí được lắp đặt, nếu tất cả hệ thống khí vận hành cùng lúc nước sẽ chạy xung quanh toàn bộ ao. Điều này cho thấy rằng hệ thống sục khí là đầy đủ để giữ sạch cho ao và khu vực cho ăn.

2.2 Hệ thống sục khí được đặt như thế nào trong ao có ống xả cặn ở trung tâm?


Khi một ao được lắp đặt bởi một hệ thống xả trung tâm (hệ thống siphon đáy ao), nước thải được thoát ra ngoài và thay vào đó là nước sạch mới, trong suốt quá trình nuôi. Điều này làm tăng số lượng tôm trong ao nuôi so với các ao không có cống xả trung tâm. Bởi vì quá trình này tạo ra được nhiều vùng đáy ao sạch hơn đồng thời hàm lượng oxy cũng sẽ cao hơn. Tuy nhiên, các ao có lắp đặt cống xả trung tâm phải có ao xử lý đặt biệt dùng để chứa chất thải và bùn được xả ra từ cống thải, bởi vì nếu không có ao lắng này chúng ta không thể xả trực tiếp vào nguồn nước cấp từ biển. Nếu nước thải được bơm vào các kênh rạch hay sông, nó sẽ làm ô nhiễm nguồn nước này và ảnh hưởng đến người xung quanh và các loài động vật sử dụng nước.
 
Máy thổi khí oxy, thiết bị sục khí oxy


Ở đây, có nhiều loại khác nhau của cống xả trung tâm. Một số trại nuôi sử dụng hệ thống hút đáy và họ hút thủ công bằng cách sử dụng ống nhựa dẻo hút chất thải từ trung tâm của ao nuôi ra ngoài. Có lẻ cách này là hiệu quả nhất, họ sử dụng máy bơm để bơm trực tiếp chất lắng cặn từ chổ trũng ở trung tâm ao nuôi và thông qua ống nhựa để đến ao chứa chất thải.